![]() |
| Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Ngọc Thưởng và đoàn công tác của Bộ GD&ĐT làm việc với Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng. |
Chính sách phải xuất phát từ thực tiễn
Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng cho biết, Bộ GD&ĐT đang khẩn trương thu thập ý kiến từ các cơ sở đào tạo để hoàn thiện Đề án nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, dự kiến trình Phó Thủ tướng Chính phủ trước ngày 31/12. Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng là một trong những đơn vị được Bộ trực tiếp làm việc nhằm ghi nhận khó khăn, vướng mắc và tiếp nhận các đề xuất chính sách.
Theo Thứ trưởng, đề án cần bảo đảm tính khả thi, giải quyết những vấn đề thực tế thay vì dừng ở các mục tiêu mang tính hình thức. Vì vậy, lãnh đạo nhà trường, các khoa, phòng và tổ chuyên môn cần thẳng thắn nêu những bất cập, đề xuất giải pháp cụ thể về điều kiện bảo đảm chất lượng, chế độ đãi ngộ, thực hành, thực tập sư phạm, chuyển đổi số và cơ chế bố trí việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp.

Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng phát biểu tại buổi làm việc.
Thứ trưởng nhấn mạnh, đội ngũ nhà giáo giữ vai trò quyết định đối với chất lượng giáo dục. Việc đầu tư cho đào tạo giáo viên không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển của giáo dục mầm non và phổ thông trong nhiều năm tiếp theo.
Do đó, chính sách dành cho các cơ sở đào tạo sư phạm cần được xây dựng đồng bộ, từ nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cải thiện điều kiện giảng dạy đến bảo đảm cơ chế tài chính và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau đào tạo.
Một yêu cầu khác được Thứ trưởng đặt ra là đổi mới phương pháp đào tạo theo hướng tăng cường năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Giáo viên tương lai cần có khả năng chủ động cập nhật kiến thức, thích ứng với sự thay đổi của chương trình và sách giáo khoa, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào các đợt tập huấn ngắn hạn. Cùng với đó, việc từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học cần được triển khai trên cơ sở khoa học, gắn với chính sách phù hợp đối với đội ngũ giảng viên.
Tháo gỡ bất cập trong đào tạo và sử dụng giáo viên
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng hiện có hơn 13.000 người học, trong đó sinh viên sư phạm chiếm khoảng 2/3. Trường đào tạo 19 ngành đào tạo giáo viên, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ chiếm 73,6%. Tỷ lệ sinh viên sư phạm tốt nghiệp đúng hạn đạt trên 90%; tỷ lệ người học có việc làm đúng ngành hoặc liên quan đến ngành đào tạo đạt gần 84%. Những kết quả này cho thấy năng lực đào tạo của nhà trường, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế để phát huy hiệu quả nguồn lực hiện có.
Theo PGS.TS Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, một trong những khó khăn nổi bật là cơ chế đặt hàng đào tạo giáo viên theo Nghị định 116 chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Số lượng chỉ tiêu đặt hàng từ địa phương còn hạn chế, trong khi việc kết nối dữ liệu giữa cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng lao động chưa đồng bộ. Điều này gây khó khăn cho công tác dự báo nhu cầu, theo dõi việc làm sau tốt nghiệp và điều phối giáo viên giữa các địa phương.

PGS.TS Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng báo cáo tại buổi làm việc.
Bên cạnh đó, một số ngành được giao chỉ tiêu tuyển sinh thấp, chưa tương xứng với chi phí tổ chức đào tạo và yêu cầu duy trì đội ngũ giảng viên. Các ngành đặc thù như sư phạm tiếng Lào, sư phạm tiếng dân tộc thiểu số cũng gặp vướng mắc về điều kiện mở ngành, dù có ý nghĩa đối với nhiệm vụ phát triển vùng và đáp ứng nhu cầu nhân lực chuyên biệt.
Nhà trường kiến nghị Bộ GD&ĐT nghiên cứu điều chỉnh quy mô đào tạo theo định hướng quy hoạch mạng lưới sư phạm, xác định rõ vai trò của các cơ sở trọng điểm ở ba miền. Trong đó, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng cần được phát huy vai trò trung tâm đào tạo giáo viên phục vụ khu vực miền Trung – Tây Nguyên, nơi có địa bàn rộng, điều kiện địa lý đa dạng và nhu cầu nhân lực giáo dục đặc thù.
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng phối hợp với Sở GD&ĐT Đà Nẵng và chính quyền thành phố xây dựng mạng lưới 81 cơ sở vệ tinh phục vụ đào tạo giáo viên. Điểm mới trong hoạt động thực tập là sinh viên không chỉ dự giờ mà còn trực tiếp hỗ trợ giáo viên giảng dạy, tham gia các hoạt động chuyên môn và nghiên cứu khoa học cùng giáo viên phổ thông. Qua đó, sinh viên tích lũy kinh nghiệm thực tế, nâng cao năng lực nghề nghiệp, đồng thời góp phần hỗ trợ các trường phổ thông trong công tác giảng dạy.
Cùng với điều chỉnh chỉ tiêu, các cơ chế tài chính cũng cần được xem xét. Theo báo cáo của trường, nguồn ngân sách sự nghiệp bình quân hiện còn hạn chế, trong khi kinh phí đầu tư cơ sở vật chất chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển. Việc tăng cường đầu tư phòng thí nghiệm, không gian thực hành và hạ tầng phục vụ nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là trong bối cảnh đổi mới giáo dục và chuyển đổi số.
Đối với chính sách hỗ trợ sinh viên sư phạm, TS Đinh Thị Mỹ Hạnh, Phó Hiệu trưởng nhà trường, cho rằng cần quan tâm hài hòa giữa nghĩa vụ của người học và trách nhiệm tuyển dụng của địa phương. Thực tế, có sinh viên sau tốt nghiệp chủ động tìm việc nhưng chưa thể được tuyển dụng do địa phương thiếu chỉ tiêu hoặc vướng cơ chế tuyển dụng. Vì vậy, việc thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn kinh phí cần tính đến những trường hợp không tìm được việc làm vì nguyên nhân khách quan, tránh để toàn bộ gánh nặng dồn lên người học.
TS Đinh Thị Mỹ Hạnh đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông về nhu cầu giáo viên, quá trình đào tạo và tình trạng việc làm sau tốt nghiệp. Trên cơ sở đó, việc điều phối nhân lực có thể triển khai theo nhiều cấp độ, từ ưu tiên lựa chọn cơ sở công tác đối với sinh viên có thành tích tốt, phân bổ theo nhu cầu địa phương đến điều tiết ở quy mô quốc gia với sự chủ trì của Bộ GD&ĐT.
Giải pháp này không chỉ hỗ trợ sinh viên tìm kiếm việc làm mà còn tạo điều kiện để các cơ quan quản lý chủ động dự báo nhu cầu, hạn chế tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đào tạo.
Phát triển khoa học giáo dục, nâng cao chất lượng chính sách
Bên cạnh bài toán đào tạo và sử dụng giáo viên, các ý kiến tại buổi làm việc cũng nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu khoa học giáo dục trong hoạch định chính sách.
PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu, Phó Hiệu trưởng phụ trách khoa học và công nghệ của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, đề xuất đổi mới tư duy nghiên cứu theo hướng liên ngành, tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ giáo dục để giải quyết những vấn đề thực tiễn của ngành.



Đoàn công tác cùng cán bộ, giảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng thảo luận một số nội dung đóng góp xây dựng Đề án.
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu, kết quả nghiên cứu cần vượt ra ngoài khuôn khổ các báo cáo lý thuyết, hướng đến những sản phẩm có khả năng ứng dụng và địa chỉ sử dụng cụ thể. Các trường sư phạm cần được đầu tư hạ tầng nghiên cứu thực nghiệm, phòng thí nghiệm và công cụ đo lường, đánh giá năng lực người học. Đây là cơ sở để nâng cao độ tin cậy của các kết luận khoa học, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý điều chỉnh chương trình và chính sách giáo dục.
PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu đề xuất cần hình thành mạng lưới phòng thí nghiệm khoa học giáo dục dùng chung theo ba vùng Bắc - Trung - Nam, trong đó Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng có thể đảm nhận vai trò trung tâm nghiên cứu phục vụ khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Cùng với đó là phát triển năng lực đo lường, đánh giá và xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng khoa học.
TS Lê Thị Thanh Tịnh, Phó Trưởng khoa Ngữ văn - Truyền thông đề xuất Bộ GD&ĐT xây dựng tiêu chí đánh giá phù hợp với đặc thù của các cơ sở đào tạo sư phạm. Việc đánh giá cần tính đến tác động đối với hệ thống giáo dục, năng lực bồi dưỡng giáo viên và đổi mới phương pháp dạy học, thay vì chủ yếu dựa trên các tiêu chí về hạ tầng hoặc công nghệ. Ngoài ra, cần có cơ chế hỗ trợ kinh phí khi giảm giờ giảng cho trưởng nhóm nghiên cứu, tạo điều kiện để giảng viên tập trung phát triển khoa học.
Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng nhấn mạnh ba trụ cột đột phá trong Đề án nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên gồm tư duy, thể chế và nguồn lực. Trong đó, tư duy đào tạo phải đi trước thực tiễn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nghề giáo; thể chế cần được hoàn thiện, làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ sở đào tạo và địa phương, tháo gỡ những vướng mắc trong thực hiện. Đặc biệt, Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo về nguồn lực, tiếp tục hỗ trợ kinh phí học tập cho sinh viên và đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho các trường sư phạm, bảo đảm chất lượng đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.



